Văn khấn báo gia tiên khi bé chào đời và khi đặt tên: lời thưa với tổ tiên về người mới trong nhà
Trả lời ngắn: Khi trong nhà có em bé, người chủ nhà thắp hương bàn thờ gia tiên báo tin, và khi tên bé đã chốt thì thưa lại một lần nữa với tổ tiên. Đây là hai lời khấn ngắn, thường làm trước lễ đầy tháng. Bài dưới đây gộp cả hai trường hợp, có chỗ [điền] tên cha mẹ, tên bé và ngày sinh, kèm cách giữ nếp kiêng tên húy của ông bà mà vẫn hợp với cách đặt tên hôm nay.
Vì sao báo tin với gia tiên
Trong nếp nhà Việt, bàn thờ gia tiên là nơi con cháu kể chuyện nhà với người đã khuất: cưới vợ, sinh con, đỗ đạt, làm nhà đều thưa. Một đứa trẻ chào đời là chuyện lớn nhất của một gia đình, nên người xưa không bao giờ để qua mà không thưa.
Báo tin cũng là cách nhắc con cháu nhớ mình thuộc về một dòng họ. Đứa bé được giới thiệu với tổ tiên trước khi được giới thiệu với họ hàng.
Báo tin vào lúc nào
Thường là ngay khi mẹ tròn con vuông, người ở nhà thắp hương báo tin, không cần chờ mẹ con về. Có nhà đợi tới lễ đầy cữ hoặc đầy tháng mới báo một thể. Cả hai cách đều được dùng.
Lời báo tin đầu tiên thường rất ngắn, chỉ cần nói nhà có thêm cháu trai hay cháu gái, con của ai, sinh ngày nào, mẹ con đều khỏe.
Báo tên vào lúc nào
Nhiều gia đình đặt tên chính thức lúc làm giấy khai sinh, thường trong tháng đầu. Khi tên đã chốt, người chủ nhà thưa lại với gia tiên: cháu tên gì, tên ấy có ý nghĩa gì. Nhiều nhà làm việc này cùng lễ đầy tháng.
Có nhà giữ lệ hỏi ý ông bà, cha mẹ chồng trước khi đặt tên. Lệ này nay không còn bắt buộc, nhưng hỏi ý người lớn vẫn là cách giữ hòa khí.
Bài văn khấn báo tin bé chào đời
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần, mỗi lần một vái)
Con kính lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Thổ Công, Táo quân và chư vị thần linh cai quản trong nhà này.
Con kính lạy các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, nội ngoại tổ tiên họ [điền họ].
Hôm nay là ngày [điền] tháng [điền] năm [điền tên năm can chi], nhằm ngày [điền ngày dương lịch].
Tín chủ con là [điền họ tên người khấn], cùng toàn gia quyến, ngụ tại [điền số nhà, đường, phường hoặc xã, tỉnh hoặc thành phố].
Hôm nay con xin thành tâm thắp nén hương thơm, kính báo với tổ tiên: vợ chồng con là [điền tên cha] và [điền tên mẹ] đã sinh được một cháu [trai hoặc gái], vào giờ [điền] ngày [điền] tháng [điền] năm [điền]. Mẹ tròn con vuông.
Cúi xin tổ tiên nội ngoại chứng giám, phù hộ cho mẹ con bình an, cháu bú mớm đều, mau lớn khỏe mạnh.
Con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Bài văn khấn báo tên của bé
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần, mỗi lần một vái)
Con kính lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Thổ Công, Táo quân và chư vị thần linh cai quản trong nhà này.
Con kính lạy các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, nội ngoại tổ tiên họ [điền họ].
Hôm nay là ngày [điền] tháng [điền] năm [điền tên năm can chi], nhằm ngày [điền ngày dương lịch].
Tín chủ con là [điền họ tên người khấn], cùng toàn gia quyến, ngụ tại [điền số nhà, đường, phường hoặc xã, tỉnh hoặc thành phố].
Con xin kính báo: cháu nội (hoặc ngoại) của dòng họ, con của vợ chồng con, sinh ngày [điền], nay được đặt tên là [điền họ và tên đầy đủ]. Tên ấy mang ý [điền ý nghĩa ngắn gọn].
Cúi xin tổ tiên nhận cháu vào dòng họ, phù hộ cho cháu lớn lên khỏe mạnh, ngoan hiền, sống tử tế, giữ được nếp nhà.
Con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (ba lần)
Câu "ý nghĩa ngắn gọn" có thể bỏ nếu người khấn không quen. Nhiều nhà thích nói, coi như kể cho ông bà nghe vì sao chọn tên ấy.
Kiêng tên húy của ông bà
Nếp xưa kiêng đặt tên con trùng tên ông bà, cụ kỵ, kể cả người đã khuất. Gọi tên con mà trùng tên người trên bị coi là thiếu lễ. Nhiều gia đình vẫn giữ: trước khi đặt tên, hỏi người lớn danh sách tên các cụ trong ba bốn đời.
Ngày nay một số gia đình đặt tên con trùng tên ông bà để tưởng nhớ, nhất là ở các nước phương Tây. Ở Việt Nam, nếu muốn tưởng nhớ, có thể dùng một chữ đệm gần nghĩa thay vì lấy nguyên tên.
Tên tục, tên ở nhà
Nhiều bé có tên ở nhà như Bin, Bống, Cún, Mít. Thời xưa có tục đặt tên xấu cho dễ nuôi, để "ma quỷ không để ý". Tục ấy phản ánh nỗi lo mất con của người xưa khi trẻ sơ sinh dễ mất. Ngày nay tên ở nhà chủ yếu để gọi cho thân mật.
Trong lời khấn với gia tiên, nên đọc tên chính thức. Có thể nói thêm "ở nhà gọi là [điền]" để ông bà biết.
Ai đứng khấn và đứng thế nào
Người chủ nhà, thường là ông nội hoặc người con trưởng giữ bàn thờ, đứng khấn. Nếu bàn thờ ở nhà riêng của vợ chồng trẻ, người chồng khấn. Người khấn đứng ngay ngắn trước bàn thờ, tay chắp trước ngực, đọc rõ.
Bé chưa cần bế tới trước bàn thờ trong những ngày đầu. Đến lễ đầy tháng, nhiều nhà bế bé ra trước bàn thờ một lúc để "ra mắt" ông bà, rồi đưa vào ngay.
Lễ vật báo tin
Lễ báo tin không cần mâm cỗ. Một bát hương thắp, một đĩa hoa quả, chén nước, chén rượu nhỏ nếu nhà có lệ, là đủ. Có nhà thêm đĩa xôi. Lễ báo tên thường đi kèm mâm cơm đầy tháng, không cần sắm riêng.
Người khấn có thể không sắm lễ gì ngoài nén hương, vẫn được coi là đủ lòng. Các sách văn khấn cổ truyền nhiều lần nhắc "lễ bạc tâm thành": lễ mọn mà lòng thật.
Nhà thờ cúng hai bên nội ngoại
Bé là cháu nội của một bên, cháu ngoại của bên kia. Thường báo tin ở bàn thờ bên nội trước, sau đó ông bà ngoại tự thắp hương báo ở nhà mình. Không nên bỏ quên bên ngoại; nhiều gia đình đã có chuyện buồn vì chi tiết này.
Nếu vợ chồng ở riêng và có bàn thờ chung cả hai bên, lời khấn gọi "nội ngoại tổ tiên" là đã bao gồm cả hai.
Con nuôi, con riêng được báo tin thế nào
Đón con nuôi về nhà cũng là chuyện lớn, nhiều gia đình báo với gia tiên như đón con ruột: con tên gì, từ nay là con cháu trong nhà. Con riêng của vợ hoặc chồng về sống chung cũng có thể được báo như vậy.
Lời khấn cho trường hợp này nên nhẹ nhàng, không nói những điều khiến đứa trẻ, nếu sau này biết, cảm thấy khác biệt. Đứa trẻ cần được đón nhận trọn vẹn.
Khi gia đình theo tôn giáo khác
Gia đình theo Công giáo có thể dâng lời tạ ơn theo cách của mình và vẫn tưởng nhớ tổ tiên bằng nén hương trước di ảnh, như nhiều giáo xứ đã cho phép. Gia đình Phật tử có thể tụng một thời kinh ngắn, hồi hướng cho bé. Không có cách nào duy nhất.
Điều chung là nhớ tới người đi trước và mong điều lành cho người đến sau.
Ghi lại ngày sinh cho đúng
Ngày sinh âm lịch, giờ sinh của bé sau này dùng cho nhiều việc: tính ngày đầy tháng, thôi nôi, xem tuổi. Nên ghi cả giờ dương lịch theo đồng hồ, ngày dương lịch, và nhờ người tra đổi sang âm lịch cho chính xác, tránh nhầm khi bé sinh sát nửa đêm hoặc sát Tết.
Giấy chứng sinh của bệnh viện ghi giờ phút chính xác, nên chụp lại cất giữ.
Chọn tên con: những điều thực tế nên nghĩ
Ngoài chuyện kiêng tên húy, nên đọc to cả họ tên xem có dễ đọc, dễ viết, không gây hiểu lầm khi viết không dấu hay khi gọi tắt. Thử viết tên trên giấy tờ, email, xem chữ cái đầu ghép lại có thành từ khó nghe không. Tên quá dài, quá lạ có thể khiến con vất vả khi làm giấy tờ.
Nhiều gia đình chọn tên theo ý nghĩa: mong con hiền lành, mạnh khỏe, sáng dạ. Kể ý nghĩa ấy trong lời khấn là cách gửi gắm mong ước của cha mẹ tới ông bà, và sau này kể lại cho con nghe.
Nếu gia đình nhờ người xem tên theo ngũ hành hay số nét, hãy coi đó là tham khảo. Một cái tên đẹp nghĩa, dễ gọi, không trùng tên người trên đã là cái tên tốt; đừng vì một lời phán mà đổi tên con nhiều lần, gây rắc rối giấy tờ.
Gia phả và cuốn sổ của bé
Nhà có gia phả thì bổ sung tên bé vào gia phả, ghi rõ con ai, sinh ngày nào. Nhà chưa có gia phả, có thể bắt đầu bằng một cuốn sổ nhỏ ghi tên các đời gần nhất và tên bé. Vài chục năm sau, cuốn sổ ấy là thứ con cháu quý nhất.
Gia đình muốn tìm thêm sách về nếp thờ cúng, cách lập gia phả và các lễ trong năm có thể xem tủ sách phong tục, phong thủy tại Thế Giới Phong Thủy để có một cuốn tra cứu trong nhà.